Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Một nốt trầm xao xuyến/Tan biến trong hòa ca.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

Đấu tranh chủ quyền Biển Đông / mạn đàm chữ nghĩa

1."Hòa hiếu" (có lúc nói là "Hiếu hòa"):
"Hiếu" ở đây nên hiểu là yêu mến, hướng tới, theo đó "Hòa hiếu" là hướng về hòa bình, yêu chuộng hòa bình, tư tưởng đối ngoại chủ đạo là vì hòa bình. (Chữ "Hiếu" ở đây đừng nên hiểu nhầm có nghĩa liên quan tới sự "lễ phép" của người dưới với người trên). 
Ta "Hòa hiếu", ta sẽ có chính nghĩa.

2."Dùng nguy cơ chiến tranh để ngăn ngừa chiến tranh":
Hòa hiếu nhưng cần có sức mạnh phòng vệ để "bạn" đừng bắt nạt ta. Có đủ sức mạnh phòng vệ cần thiết, ta mới mong "bạn" nghĩ đến chuyện để ta yên.


3."Công khai thông tin":
Công khai thông tin là để thức tỉnh tinh thần và huy động sức dân (trong và ngoài nước) tham gia công cuộc bảo vệ tổ quốc.

4."Biểu tình vì hòa bình"
Biểu tình là sức mạnh chính trị của chính nghĩa. Xét trong lịch sử bảo vệ tổ quốc, ta nhiều lần giành thắng lợi bằng sức mạnh chính trị mà không phải dùng tới sức mạnh quân sự. Trong lúc này, biểu tình vì mục đích bảo vệ tổ quốc là điều cần thiết.

5."Blogger"
Sự nghiệp giữ nước không của riêng ai. Mỗi blogger với lòng nhiệt huyết và sự đóng góp sáng kiến, đều cần được coi là một "chiến sĩ" tham gia công cuộc giữ nước.

6."Bạn bè quốc tế"
Với vấn đề này thì cần nhớ tới câu châm (chọc) ngôn: "Bạn bè mỗi lúc một đông/Thạch Sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều". Ta đều biết các bạn quốc tế của chúng ta ai cũng vì lợi ích của mình mà hành động. Tranh thủ được các bạn quốc tế là điều tốt, nhưng chẳng thể dựa dẫm vì ngộ nhỡ các bạn thỏa hiệp với người khác để bỏ ta như trong lịch sử. Như thế nghĩa là mặc dù phải tranh thủ các bạn quốc tế, ta vẫn phải tự lực tự cường.

7."Đất giăng dây, cây thẳng hàng"
Đây là kinh nghiệm từ ngàn đời tổ tiên đã dạy, cũng là điều cuối cùng mà ta cần đạt được. Ta có UNCLOS 1982 là chỗ dựa, nhưng khi "bạn tốt láng giềng" bắt nạt ta, dù có kêu toáng lên để thế giới biết, ta cũng chớ dại mà kiện tụng gì. Một chuyên gia luật quốc tế của ta đã cho biết khi có tranh chấp khiếu kiện như thế, phán quyết đưa ra thường là xử hòa, nghĩa mỗi bên đều phải chịu thiệt. "Bạn" thâm nho có lẽ hiểu rõ điều đó, nên cứ âm mưu mở rộng mãi diện tích của cái gọi là "vùng tranh chấp" ấy ra, để nếu ta "Thu Cúc đi kiện" thì kiểu gì cũng mất lãnh hải mà "bạn" lại hợp pháp hóa lãnh hải ăn cướp được.

Thế nghĩa là muốn nói gì đi nữa thì thực ra việc này không thể nhờ thế giới hoàn toàn, mà là chuyện song phương, hướng tới mục tiêu phân định và thừa nhận lãnh hải cụ thể giữa ta với ông "láng giềng tốt". Chắc ta đã hiểu được điều đó nên chính vì thế mà trước đây mới cố gắng để có được cái phân định biên giới và vịnh Bắc Bộ, theo đúng tinh thần "Đất giăng dây, cây thẳng hàng" (dù rằng có thể để đạt được sự phân định ấy, đã phải chấp nhận có những thỏa hiệp!?).

Nay với câu chuyện chủ quyền 2 quần đảo và biển Đông, "bạn" là ông láng giềng khủng, chí hướng thì ở bốn phương, chắc ta cũng chẳng chủ tâm, hay chẳng thể đòi có hết biển Đông làm ảnh hưởng tới lối ra thế giới của "bạn" được. Thế thì với việc hiện đang có UNCLOS, ta cứ theo UNCLOS để mà bám trời bám biển, cho tới khi "bạn" ngỏ ý bàn bạc phân định rạch ròi, thì chớp lấy để mà sớm hoàn tất điều này. Sống cạnh ông láng giềng lớn mạnh, có cái khổ như vậy. Tuy nhiên nếu sớm có được sự thừa nhận, phân định rạch ròi như thế, ta cũng bớt bị "bạn" quấy rối đi nhiều.

Tiểu kết:
Dân tộc bạn vốn là một dân tộc vĩ đại, đặc biệt có tầm vóc văn hóa, trí tuệ lớn lao, có những đức tính đầy nghĩa khí như: sử dụng sức mạnh để bênh vực kẻ yếu, tiêu diệt kẻ ác... từng khiến người ta ngưỡng mộ. Với ta, cũng đã từng có nơi, có lúc giúp đỡ nhiệt tình.

Nhưng cũng tiếc rằng ở vào nhiều thời đại trước cho tới cả ngày nay, giới tinh hoa của dân tộc ấy không phải là người lãnh đạo đất nước. Với tinh thần dân tộc cực đoan không được kiểm soát, đất nước ấy đang trở thành một "kẻ bắt nạt xấu tính", một kẻ ích kỷ chỉ biết tới lợi ích của mình, một con quái vật - nói không ngoa - cần đề phòng trong mắt láng giềng.

Và như thế, thì quả là đáng tiếc cho thế giới, khi đã mất đi một quốc gia có khả năng lãnh đạo, có trách nhiệm đối với sự ổn định và hòa bình của thế giới.

Trương Chi

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Cơ hội ... Vàng

Hiện tượng

Theo niêm yết của các công ty kinh doanh vàng trong nước thì vào thời điểm hiện tại, giá vàng thế giới (đã quy đổi sang tiền Việt) đang cao hơn so với giá vàng trong nước.

Hình trên chụp từ website của Công ty CP Vàng Bạc Đá quý SJC Hà Nội.

Theo niêm yết của website này, vào lúc 15h49 ngày 27/4/2011, giá vàng SJC trong nước bán ra là 37,460 triệu đồng/lượng, thấp hơn 1,643 triệu đồng/lượng so với giá vàng thế giới (đã quy đổi thành tiền Việt - được niêm yết với giá 39,103 triệu đồng/lượng).

Đây là điều hiếm khi xảy ra kể từ khi kinh tế Việt Nam mở cửa với kinh tế thế giới.

Theo quy luật "bình thông nhau", thông thường, giá vàng trong nước luôn tuân theo sự thay đổi và bắt kịp (có nhỉnh hơn một chút) so với giá vàng thế giới.

Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, quy luật ấy đã không còn được tuân theo. 

Lý giải


Giải thích về điều này, người viết cho rằng đó chính là hệ quả của chính sách kiểm soát từ phía Nhà nước đối với hoạt động buôn bán vàng trong nước thời điểm hiện tại.

Trong bối cảnh kiềm chế lạm phát, vàng là một thứ tài sản không được khuyến khích nắm giữ. Vàng vốn là một loại tiền tệ được quy ước trên toàn thế giới. Khi nền kinh tế quốc gia kém ổn định, sức mua của đồng nội tệ bị ảnh hưởng, người dân có xu hướng nắm giữ ngoại tệ mạnh hoặc vàng. Nếu để người dân có tâm lý nắm giữ hoặc thanh toán giao dịch bằng ngoại tệ và vàng thay cho đồng tiền nội tệ, thì đồng nội tệ sẽ càng trở nên mất giá, khiến lạm phát càng gia tăng.

(Chúng ta biết lạm phát là một hiện tượng kinh tế, xảy ra khiến cho giá cả hàng hóa sản phẩm dịch vụ tăng cao, ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế).

Để góp phần kiềm chế lạm phát thông qua kiểm soát hoạt động kinh doanh vàng, trong thời gian vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã thông tin tới người dân những chính sách dự kiến nhằm thắt chặt hoạt động kinh doanh này.

Như chúng ta thấy, hệ quả của hoạt động truyền thông này là đã tạo ra những tác động nhất định tới tâm lý của người dân và đối với giá vàng trong nước.

Cơ hội

Duy trì kiểm soát giá vàng, nhất là trong bối cảnh xảy ra lạm phát là điều cần thiết. Tuy vậy, người viết (và một số người bạn của mình) cho rằng tình hình giá vàng trong nước chênh lệch so với giá vàng trên thế giới theo chiều hướng thấp hơn nhiều như hiện nay sẽ không thể kéo dài.

Chúng ta đã thấy hoạt động xuất lậu xăng dầu qua biên giới, khi giá xăng dầu trong nước thấp hơn so với giá xăng dầu khu vực.

Để giá vàng trong nước thấp hơn so với giá vàng thế giới, chiếc lò xo "giá vàng trong nước" đang bị nén ?

Vấn đề là tới khi nào, giá vàng trong nước bắt kịp trở lại với mặt bằng giá vàng thế giới ?

Người viết cho rằng mốc kết thúc quý II năm 2011 là rất đáng chú ý.

Đây là thời điểm hoạt động bầu cử Quốc hội tại Việt Nam đã hoàn tất (Chúng ta biết rằng trước mỗi hoạt động lớn của quốc gia, việc ổn định mọi mặt hoạt động xã hội là điều cần thiết).

Thời điểm cuối quý II năm 2011 cũng lúc dự kiến lạm phát sẽ được kiểm soát.

Khi đó, những chính sách thắt chặt đối với nền kinh tế cần trở nên linh hoạt hơn. Dẫu sao, mục tiêu dài hạn đối với mọi nền kinh tế vẫn là sự tăng trưởng. Trong bối cảnh các chính sách thắt chặt đã được nới lỏng như vậy, sự bất hợp lý trong việc để giá vàng trong nước thấp hơn mặt bằng giá vàng thế giới cũng sẽ sớm kết thúc.

Và với sự thay đổi ấy, thành quả sẽ tới với những người mà vào thời điểm hiện tại, đang nắm giữ một số lượng vàng nhất định với mức giá thấp hơn so với thế giới ???!

Chúng ta hãy cùng chờ đợi !

Trương Chi 


Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

Quy luật Pareto và Dự thảo Luật Thủ đô ?

Quy luật Pareto hay quy luật 80/20 là một quy luật đã trở nên phổ biến, xuất hiện trong thực tế ở mọi lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội...

Tinh thần chính của Quy luật này là việc chỉ ra hiện tượng: trong một tổng thể, sẽ có một nhóm thiểu số trong tổng thể đó giữ vai trò quyết định so với nhóm đa số còn lại của tổng thể, mà trong đó nhóm thiểu số  thường được quy ước là chiếm 20%, nhóm đa số thường được quy ước là chiếm 80% của tổng thể (tham khảo: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_l%C3%BD_Pareto ). 

Một số ví dụ:

 - Số những người giàu nhất trên thế giới chỉ chiếm 20% dân số của thế giới, song tài sản mà họ nắm giữ lại chiếm tới 80% của cải của thế  giới. Trong khi đó, 80% dân số còn lại của thế giới chỉ nắm giữ 20% của cải thế giới.

- Một nhóm nhỏ khách hàng trên tổng số khách hàng của một doanh nghiệp thường giữ vai trò quyết định tới phần lớn doanh số của doanh nghiệp đó.

- Luôn tồn tại một nhóm nhỏ nhân sự trong một tổ chức mà hoạt động của họ có tác động tới phần lớn hiệu quả hoạt động chung của tổ chức ấy.

- Một nhóm nhỏ hàng hóa lưu kho nhiều khi có giá trị gần bằng tổng giá trị của tất cả hàng hóa trong kho.

- 80% nội dung thông tin của cuốn sách đôi khi được thể hiện ở một vài trang sách của cuốn sách ấy.
...........

Hoàn toàn có thể thấy được quy luật Pareto trong việc phân bổ dân cư ở mỗi quốc gia. Các trung tâm, đô thị lớn của các quốc gia tuy với diện tích nhỏ song luôn có xu hướng thu hút một số lượng lớn dân số tới tập trung sinh sống.

Với Việt Nam thì Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng .... chắc chắn sẽ là nơi thu hút một số lượng lớn số dân cư ấy tới sinh sống.

Vì thế có thể nói việc đề ra biện pháp hành chính nhằm hạn chế  việc di dân tới thủ đô hay các thành phố trung tâm lớn là điều trái với quy luật, mà chưa cần bàn tới những vấn đề bất hợp lý khác của chính sách hạn chế ấy.

Tác giả bài này đồng tình với ý kiến cho rằng thay vì bàn bạc tới việc sử dụng biện pháp hành chính nhằm hạn chế hoạt động di dân, nhập cư tới các trung tâm, đô thị lớn (kiểu như xây dựng dự thảo Luật Thủ đô), thì cần quan tâm đến việc xây dựng chính sách để có thể một mặt đảm bảo đời sống cho cư dân tại các trung tâm, đô thị, mặt khác tạo cơ hội cho tất cả người dân có thể thực hiện được nhu cầu di chuyển tới sinh sống và làm việc tại các khu vực trung tâm.

Bởi nhu cầu được phát triển bản thân của con người luôn là nhu cầu chính đáng.

Vấn đề còn lại là khi đã cùng được thụ hưởng chính sách tạo cơ hội phát triển như nhau, với năng lực và nhu cầu của mình, người dân sẽ quyết định lựa chọn nơi cư trú và sinh sống phù hợp.


Như vậy, trong quản lý việc nắm được các quy luật luôn là điều quan trọng.

Đôi khi chỉ là để giảm đi những việc làm không cần thiết!

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2011

Hiện tượng kinh tế VN thời điểm hiện tại

Muốn thấy điều gì đang xảy ra với nền kinh tế trong thời điểm hiện tại, cần bắt đầu bằng thông tin về việc tháng 2 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11 về "những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội".

Như vậy là có thể thấy rằng, Chính phủ đã chính thức thừa nhận lạm phát đang gây ra tác động xấu cho xã hội, và việc cần làm là phải kiểm soát lạm phát.

Lạm phát thường được hiểu là sự mất giá đồng tiền quốc gia, khiến giá cả tăng cao, ảnh hưởng tới đời sống xã hội và gây đình trệ hoạt động sản xuất (do giá nguyên liệu và sử dụng vốn đầu vào tăng cao). Ở nước ta lạm phát đang diễn ra khiến dân nghèo, người làm công ăn lương, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp thuộc khối tư nhân .... phải nếm mùi khó khăn. Người dân đang phải chi nhiều VND hơn cho cùng một loại nguyên liệu, hàng hóa và dịch vụ cần cho sản xuất và tiêu dùng hàng ngày. Những bác có của thì tìm cách chuyển sang nắm giữ ngoại tệ, kim loại quý (như vàng) hoặc tài sản có giá khác (như bất động sản) để giữ lấy giá trị tài sản của mình. Điều ấy càng tác động vào sự mất giá của VND, đẩy giá cả nguyên liệu, hàng hóa và dịch vụ lên cao thêm.

Lạm phát là vấn đề của kinh tế vĩ mô, mà quản lý kinh tế vĩ mô là vai trò của Nhà nước. Như vậy Nhà nước, cụ thể là Chính phủ, là những bác phải chịu trách nhiệm đầu tiên trong việc để xảy ra lạm phát.

Khách quan mà nói, trong bối cảnh hiện nay thì tình hình thế giới cũng đang có tác động xấu đến Việt Nam, góp phần làm cho giá cả trở nên đắt đỏ. Giá dầu và giá vàng thế giới thời điểm này đang ở mức cao (những bất ổn về chính trị trong nước của mấy bác xuất khẩu dầu mỏ khiến người ta sợ nguồn dầu không được cung ứng ổn định, kéo giá dầu tăng; những bất ổn của kinh tế thế giới mấy năm vừa qua khiến người ta quay ra trú ẩn vào việc nắm giữ vàng, kéo giá vàng tăng). Việt Nam đã hội nhập với thế giới, quy luật "bình thông nhau" khiến Việt Nam cũng chịu những tác động này. Khi giá năng lượng đầu vào (xăng dầu, điện...) tăng cao, sẽ đẩy giá đầu ra tăng theo. Khi giá vàng tăng cao, người cung cấp có xu hướng neo giá hàng hóa dịch vụ theo giá vàng để giữ lấy giá trị thu nhập của mình, điều ấy cũng khiến giá cả thị trường tăng theo (cái này có được các bác Chính phủ nêu tại Nghị quyết 11 ở trên).

Còn về vai trò điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ, thì cũng tại Nghị quyết  số 11, các bác Chính phủ đã "thanh minh" rằng: do phải "nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế", thành ra (có thể hiểu) là các bác đã chấp nhận để xảy ra lạm phát trong thời gian trước đây. Ở đây có thể hiểu chính sách tiền tệ nôm na là sự tăng hay giảm lượng tiền lưu thông trong xã hội (thông qua công cụ lãi suất ngân hàng), chính sách tài khóa nôm na là sự tăng hay giảm đầu tư, chi tiêu công và tăng hay giảm thuế của Chính phủ. Túm lại 2 chính sách này đều được sử dụng làm công cụ để bơm hay hút tiền trong nền kinh tế. Việc "nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế" thời gian trước đây nghĩa là các bác Chính phủ muốn nới lỏng việc cho vay vốn, rồi tăng cường đầu tư, chi tiêu công ... để nhằm mục đích bơm tiền cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh trong xã hội, kích thích tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh đó, lượng tiền được bơm ra xã hội sẽ nhiều hơn, hệ quả là sẽ gây ra lạm phát ở mức độ nào đó. Nếu điều hành tốt, ở trạng thái lý tưởng thì tăng trưởng sẽ vượt trên lạm phát, đồng thời lạm phát vẫn được kiểm soát ở mức thấp. Như vậy, ý đồ của các bác Chính phủ trước đó là chấp nhận lạm phát để có được sự tăng trưởng.

Nay các bác Chính phủ đã phải quay sang ưu tiên kiểm soát lạm phát, đề ra chính sách an sinh nhằm xoa dịu xã hội. Như thế nghĩa là các bác đã chấp nhận hi sinh mục tiêu tăng trưởng trong ngắn hạn, hay có thể nói, mục tiêu tăng trưởng đang tạm thời không phải là ưu tiên số một.

Vậy là các bác Chính phủ đã gặp phải vấn đề trong việc bơm tiền cho hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu ưu tiên cho tăng trưởng trong thời gian trước đây.

Có lẽ các đối tượng được bơm tiền đã không hấp thụ, đã không "tiêu hóa" tốt nguồn vốn, nhằm chuyển hóa hiệu quả nguồn vốn ấy vào hoạt động sản xuất kinh doanh, để tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế đất nước.

Thế là tiền đã không đẻ ra tiền...

Ngược lại, tiền đã gây ra lạm phát...

Vậy ai là người đã được ưu đãi sử dụng những đồng tiền ấy mà không mang lại hiệu quả cho đất nước.... Cái này các bác Chính phủ hiểu rõ nhất.

Dân nhiều người cũng hiểu, nhưng dân không nắm quyền điều hành kinh tế.

Thôi thì mong cái vận số của đất nước nó sáng sủa, dân hết lòng vì nước, nước sáng suốt vì dân, thì mới đỡ khổ, mới mở mày mở mặt lên được.
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Viewers come from..

free counters